Kinh Dịch - Tam nguyên cửu hạn – Quỉ Cốc baidu luận vận của Thiệu Vỹ Hoa

Đặng Xuân Thủy gửi lúc | Tag: baidu , kinh dịch , luận vận Thiệu Vỹ Hoa

Kinh Dịch - Tam nguyên cửu hạn – Quỉ Cốc:  Luận Vận Của Thiệu Vỹ Hoa

       Ở đoạn này chủ yếu nói tới Đại Vận, Tiểu Vận, Lưu Niên.

 vận đối với sự ảnh hưởng của sinh mệnh, theo mức độ ảnh hưởng của nó phân thành cửu hạn, Đại vận trong 10 năm, tiểu vận trong 1 năm, can chi của nó không phải là đại vận, cũng không phải can chi năm hiện tại của tiểu vận, can chi của năm hiện tại chỉ có thể tính là can chi của Lưu Niên. Để tiện cho mọi người dễ nắm bắt, phần này thâm nhập vào phần nội dung “luận vận” của Thiệu Vỹ Hoa.

这一段主要讲了大小运,流年运对人的生命的影响,按其影响程度又分为九限。大运管十年,小运管一年,它的干支不是大运,小运当年的干支,当年的干支只能算作流年干支。为便于人们掌握,本段插入了绍伟华的“论运”中部分的内容。

Anh phuong vi

       Tam nguyên cửu hạn, tam nguyên giả, Đại Tiểu khí vận, cửu hạn giả, tam vận vinh tạ. Từ khi mới sinh được tiết nhật, theo lý Nam dương, Nữ âm thì tính thuận, Nam Âm, Nữ Dương thì tính nghịch (ngược tiết) mà suy ra, hướng giả, số chưa đến; bối cảnh, dùng cho phần đã qua. Thập can phân là Nguyệt, tam nhật thành 1 năm. Hướng bối chi số vv. Nhằm đạt được thực chất, chưa tới thì không có ngày, có được ngày thì cũng có tiết (24 khí tiết), đương hư tác tuế, bối chi đồng thôi. Tứ trụ vận hành, cát hung tự nhiên, tiểu vận đồng thú, thịnh suy lý dị.

“三元九限。三元者,大小气运也。九限者,三运荣谢也。自生得节日为初,阳男阴女顺而理,阴男阳女逆而推。向者,数之未来;背者,用之已往。十干分之为月,三日成之一年。向背之数,须得其实。未来无日,谓当日得节也。当虚作岁,背之同推。行游四柱,吉凶自然。小运同途,盛衰理异。”

       Nội dung chủ yếu của phần này là Tam Nguyên Cửu Hạn, tại sao gọi là tam nguyên, đó là tình hình vận khí của (tam nguyên: gồm - Đại Vận(1), Tiểu Vận(2), Lưu Niên(3) Thế nào gọi là cửu hạn, Nó chủ yếu là chỉ phạm vi bất đồng trong vận khí của tình hình Cát Hung Vinh Tạ, Vậy tính toán Đại Vận như thế nào? Năm dương can Nam thuận, Nữ nghịch, tính từ ngày sinh Nam thuận về sau, Nữ tính ngược về trước 1 tiết. Thiên số chia cho 3, tức 3 ngày thành 1 Tuế.

这一段的主要内容是三元九限,什么叫三元呢?它大运小运流年的气运情况。什么叫九限呢?它主要是指在不同运气范围内的吉凶荣谢情况,怎样计算大运呢?阳干年男顺女逆,自生日起男往下顺推,女往前推到一个节,天数除以3,即三日成一岁。

Chuyen dong phuong vi

      Năm âm can Nữ Thuận, Nam nghịch, tính từ ngày sinh về trước hay về sau 1 tiết, thiên số chia cho 3, được bao nhiêu Tuế thì bắt đầu tính là Đại Vận. Phần này trong Tinh Mệnh Học Cơ Bản Thường Thức nói qua rồi, cũng không cần nói lại nữa. Xác định can chi của Đại Vận thế nào?  Can chi của đại vận và can chi của đại vận năm hiện tại không phải là một. Can chi của đại vận là dùng tháng sinh làm căn cứ, căn cứ theo năm dương can nam thuận nữ nghịch, năm âm can nữ thuận nam nghịch mà sắp xếp ra.

阴干年女顺男逆,自生日起往下或往上推到一个节,天数除以3。有几就是几岁交大运。这在星命学基本常识中已经讲过,这里不再重述。大运的干支是怎样决定的呢?大运的干支与大运当年的干支不是一回事。大运的干支是以生月为依据,根据阳干年男顺女逆,阴干年女顺男逆排出。

Ví dụ: người nam nào đó, giờ ngày tháng năm sinh là:

例如:某男: 出生年月日时为

Giờ thìn ngày 16 tháng 4 năm 1990 âm lịch

1990年农历四月十六日辰时

Sắp tứ trụ là Canh ngọ tân tỵ ất hợi canh thìn

排四柱为    庚牛   辛已    乙亥    庚辰

Tháng sinh 9 tuế (tức Đại Vận là 10 năm bắt đầu từ Tuế 9)

生月      9 岁    19      29      39      49      59       69        79

Tân tỵ nhâm ngọ quí mùi giáp thân ất dậu bính tuất đinh hợi mậu tý kỷ sửu.

辛已     壬牛  癸未   甲申 乙酉 丙戌  丁亥   戊子    己丑

Nếu ngày sinh này là của nữ, tính ngược đến 12 tháng 4 là lập hạ cộng 4 ngày, 4: 3 = 1 dư 1, vậy Tuế Vận của người nữ này là 1 Tuế, can chi của đại vận của cô này là:

如男该日生女,逆往前算到四月十二 (立夏)共四天, 4:3= 1余 1,该女是一岁运,她大运的干支是

Tháng sinh 1 tuế

生月      1岁      11          21           31            41         51          61         71

Tân tỵ canh thìn kỷ mão mậu dần đinh ngọ bính tý ất hợi  giáp tuất  quí dậu

辛已    庚辰       已卯      戊寅     丁牛        丙子    乙亥      甲戊        癸酉

Năm âm can thì Can Chi đại vận của nam hoặc nữ sẽ sắp xếp ngược lại so với phần trên

阴干年男女排大运的干支与上述正好相反。

    Can Chi năm hiện tại của Đại Vận (một chu kỳ đại vận tính 10 năm – năm đoán mệnh có thể rơi vào năm bất kỳ nào đó) chỉ tính là can chi của Lưu Niên, thế nào gọi là Lưu Niên? Tựa như là năm Lưu Thủy, năm đang đoán mệnh là năm Lưu Niên, can chi của năm Lưu Niên, căn cứ tính toán can chi thực tế của năm đang đoán mệnh.

大运当年的干支只能算流年干支。什么叫流年呢?就是似水流年,算命的当年就叫流年,流年的干支,按当年的实际干支计算。

      Tứ trụ của con người, bát tự và Can Chi Đại Vận, Can Chi Lưu Niên, Can Chi Tiểu Vận tất cả những cái đó phối hợp tạo nên xung khắc hóa hợp ảnh hưởng tới vận khí của con người.

人的四柱,八字和大运干支,流年干支,小运干支,它们的搭配形成的冲克化合影响着人的运气。

Phục phản chi trạng, tai phúc làm cơ sở phân chủ, để biện cát xung chi biến.

“ 伏反之状,灾福仍分本主之基,以辨吉凶之变”

     Trong Đại vận và bát tự tứ trụ của con người, tiểu vận, can chi của lưu niên, có Xung, Hình, Bại, Hại hoặc hóa hợp vv các dạng tính huống, Phục là thủ, phùng hợp tắc động, Phản nghĩa là có khắc động, căn cứ Quân Tử cầu Vinh Lộc, Tiểu Nhân cầu Tài An và Dụng Thần (dụng= dùng) trong mệnh của họ, Mệnh Cung, xem sự biến thông xung cát của Lưu Niên, Đại Vận, Tiểu Vận.

人的四柱八字与大运,小运,流年的干支之间,有冲刑败害或合化等各种情况,伏就是守,逢合则动,反就是有克动,逢合则静,根据君子求荣禄,小人求财安及他们命中的用神,命宫,看大小运流年的吉凶变通。

     Tiểu Vận trời trái đất phải, Dương chuẩn bị tại Dần, Âm chuẩn bị tại Thân, Cố nam nhất tuế tại Dần, Nữ nhất tuế khởi tại Thân.

“小运天左地右,阳备于寅,阴备于申,故男一岁于寅,女一岁起于申。”

     Tiểu vận là như thế nào? Tiểu vận là 1 năm chủ Hung Cát (tìm năm Hung, tìm năm Cát trong kỳ tiểu vận), khi chưa đến kỳ Đại Vận, ví dụ như Tuế Vận của người nào đó là 9, thời kỳ trước 9 tuế tức là Tiểu Vận, xem từng mỗi can chi của Niên vận, bởi vì trên mặt của la bàn, Dần là tam dương hóa Chủ, Thân là tam âm tố Sát, do đó Địa chi của Nam tính Tiểu Vận bắt đầu từ Dần, Địa chi tiểu vận của Nữ tính bắt đầu tại Thân, cũng do Nam thuộc Hỏa dương, cố Thiên Can của Tiểu Vận tính từ Bính (Bính Dần). Nữ thuộc thủy, tính Thiên Can của Tiểu Vận từ Nhâm (Nhâm Thân).

小运是怎么一回事?小运主一年之吉凶,在未到大运时,例如某人是9 岁运,9 岁以前则以小运,求每个运年的干支,因为在磁罗经盘上,寅是三阳化主,申是三阴肃煞   ,所以男的小运地支起于寅,女的小运起于申,又因为男属阳火,故小运天干起于丙,女属水,故水的天干起于壬。

       Nếu năm giáp tý thuộc năm dương can, thì tiểu vận năm đầu của Nam bắt đầu tính từ Bính Dần, năm thứ 2 là Đinh Mão, năm thứ 3 Mậu Thìn.

如甲子年属阳干年,男的一岁小运起丙寅,二岁丁卯,三岁戊辰。

      Tiểu vận năm đầu của Nữ tính từ Nhâm Thân, năm thứ hai Tân Mùi, năm thứ 3 Canh Ngọ, tính một mạch cho đến năm đang tính Dự Trắc. Chỗ này cần nói rõ là: Thiệu Vỹ Hoa trong “Tứ trụ dự trắc học” chỉ ra đây là cách tính tiểu vận với phương pháp không khoa học, ông cho rằng, nên lấy thời điểm mỗi người sinh ra là giờ Thìn làm căn cứ, năm dương can Nam thuận Nữ nghịch, năm âm can Nam nghịch Nữ thuận để tính toán, ví dụ:

女的一岁小运起壬申,二岁辛未,三岁庚牛,一直推到测算的当年。这里需要说明的是,邵伟华 “四柱预测学” 指出这种起小运方法不科学,他认为,应按每人的出生时辰为依据,阳干年男顺女逆,阴干年女顺男逆推算。例如

Phuong vi

Năm dương can: 1990 Nam sinh giờ kỷ tỵ ngày kỷ mão tháng 2, tính tiểu vận là:

阳干年:1990 年 二月己卯日己已时生男,起生运是:

Sinh thìn 1 tuế 2 tuế 3 tuế  4 tuế  5 tuế

生辰   1 岁   2 岁   3岁    4 岁     5 岁 。。。

Kỷ tỵ canh ngọ tân mùi nhâm thân quí dậu giáp tuất

己已 庚牛  辛未   壬申  癸酉  甲戌

Năm dương can: 1990 Nữ sinh giờ kỷ tỵ, ngày kỷ mão tháng 2, tính tiểu vận là:

阳干年: 1990 年二月己卯日己已时生女,起小运是:

Sinh thìn 1 tuế 2 tuế  3 tuế  4 tuế  5 tuế

生辰   1 岁   2岁    3岁     4岁    5岁

Kỷ tỵ mậu thìn đinh mão bính dần ất sửu giáp tý

己已  戊辰  丁卯   丙寅   乙丑    甲子

Năm âm can: Nam sinh giờ tân dậu, ngày quí tỵ tháng 3, tính tiểu vận là:

阴干年: 1991 年三月癸已日辛酉时生男,起小运是:

Sinh thìn  1 tuế  2 tuế   3 tuế  4 tuế  5 tuế

生辰   1岁    2岁    3岁    4岁    5岁 。。。

Tân dậu canh thân kỷ mùi mậu tuất đinh tỵ bính thìn

辛酉   庚申   己未  戊牛   丁 已   丙辰

Năm âm can: Nữ sinh giờ tân dậu, ngày quí tỵ tháng 3, tính tiểu vận là:

阴干年: 1991 年三月癸已日辛酉时生女,起小运是:

Sinh thìn 1 tuế  2 tuế  3 tuế    4 tuế    5 tuế

生辰   1岁   2   岁     3岁     4岁     5岁。。。

Tân dậu  nhâm tuất  quí hợi  giáp tý ất sửu  bính dần.

辛酉   壬戌  癸亥   甲 子      乙丑  丙寅

Thiệu Vỹ Hoa nói về phương pháp của mình và phương pháp của Quỷ Cốc Tử, tiến hành so sánh:

邵伟华说的办法和鬼谷子命书的办法,可以进行对比。

      Dĩ kiến nguyên nhi luận thắng phụ, trợ tuế vận nhi y cát hung.

Cách tính Tiểu vận, dựa vào can chi thuận tự tính một mạch đến năm tính Dự trắc, can chi tiểu vận của năm tính dự trắc có thể dựa vào sự phân chia ngũ hành của tháng đó là bổ trợ cho đại vận và can chi tứ trụ, bên cạnh đó còn Hình Xung Khắc Hại, lấy đó xác định thắng phụ, tiểu vận bổ đại vận, lưu niên và tứ trụ chưa đủ, cũng có thể xem đại vận, lưu niên và tứ trụ kỵ những gì. Vì thế có thể nói dùng tiểu vận nói lên có hung có cát. “以建元而论胜负,助岁运而依吉凶”

小运的而种起法,按干支顺序直算到所测之年,当年的小运干支可按其月建五行分清是助大运和四柱干支,还是刑冲克害之,以定胜负。小运可补大运,流年和四柱之不足,也可为大运,流年和四柱所忌。所以说小运之用有吉有凶。

      Cái gì gọi là thái tuế, có người nói là can chi của lưu niên, có người nói là địa chi của lưu niên, Thiệu Vỹ Hoa nhận thức rằng trong “Nhi nhã, dịch thiên” có nói địa chi của lưu niên làm thái tuế chuyển thích hợp. “Tam mệnh thông hội” càng tăng thêm chính xác “thái tuế là quân, là Nhất tuế chư thần sát chi tôn, gần giờ tứ vận, lấy thành tuế công, chí tôn vô thượng”. Do đó thái tuế quan trong tại đại vận, tứ trụ của con người, đại tiểu vận và thái tuế (địa chi của lưu niên) phát sinh xung khắc có hung có cát. Trong đó nghiêm trọng nhất là ưu tiên lấy thiên can địa chi Nhật Trụ xung khắc thái tuế lại xung khắc cả đại vận là xung khắc nghiêm trọng nhất.

什么叫太岁呢?有的说是流年天干,有的说流年地支,邵伟华认为 “尔雅。释天”中说的以流年地支为太岁较合适。“三命通会” 更明确强调“太岁为君,为一岁诸神杀之尊,迁运四时,以成岁功,至尊无上”。 所以太岁重于大运。人的四柱,大小运与太岁(流年之地支)发生冲克有凶有吉,其中尤以日柱天干地支冲克太岁又冲克大运,最严重。

“phản phá hình quả, trong hung có cát, Dần Thân hai mệnh, tiểu vận bất chuyển”

Phản là khắc động, đại vận, tiểu vận can chi khắc động tứ trụ của hình quả, tất hung có thể hóa cát, do Dần, Thân tính toán ra tiểu vận, có thể bổ trợ đại vận, cũng có thể trợ thái tuế lưu niên, do đó tiểu vận không được quy trên vị trí thái tuế lưu niên.

“反破刑孤,凶中有吉,寅申二命,小运不专”

反就是克动,大运,小运干支克动四柱中的刑孤,则凶可化吉,由寅,申推算出的小运,可助大运,也可能助流年太岁,所以小运不能居于流年太岁之上。

       “nhất tuế nhất di, vòng đi vòng lại” tiểu vận của con người ta là nhất tuế nhất di, vòng đi vòng lại. Tại sao nhất tuế của Nam tính tại dần, của nữ tính tại thân? Căn cứ nam 30, nữ 20 Dương từ mậu tý, Âm từ canh tý để tính, Nam tính ra Đinh tỵ, nữ tính ra Tân tỵ, nam theo thiên can địa chi tính thuận, 10 tháng thì là Bính dần, nữ theo thiên can địa chi tính nghịch, 10 tháng thì là Nhâm thân. Chỗ này cần chỉ rõ là phương pháp tính tiểu vận, có vi phạm phân tích mâu thuẫn cụ thể dự trắc, hình như bất luận người ta sinh ngày tháng năm nào, chỉ là nam thì tiểu vận đều như nhau, chỉ là nữ tiểu vận đều như nhau, không khoa học.

“一岁一移,周而复始” 人们的小运是一岁一移,周而复始。为什么男一岁起于寅,女一岁起于申呢?根据男三十,女二十阳自戊子,阴自庚子计算,男得丁己,女得辛己,男的按天干地支顺行,十个月就是丙寅,女的按天干地支逆推十个月就是壬申。这里需要指出这种计小运的办法,有违于具体矛盾具体分析的法测,好象不论哪年哪月日生的人,只要是男的小运都一样,只要是女的,小运也都一样,不科学。

     “khí giả, thời giã. Khi thời chưa đến thì khí chưa định, tức có thời thì khí đã định. Dùng nạp âm, duyên có thân, cũng có nghĩa là có khí”. Người ta thường nói Khí của vận khí là gì? Theo phương pháp người đương thời nói thì là cơ ngộ, tức là thời cơ, thời cơ chưa đến, vận khí vẫn chưa đến, đã biết có thời cơ rồi, vận khí cũng sẽ định thành sứ mệnh, do đó nên nắm chắc thời cơ, thời bất tái lai, bức tức bất cập. Cách tính toán vận khí của con người như thế nào? Là bắt đầu tính giờ sinh ra từ giờ Thìn, có thân thể rồi thì có thể tính có khí tiết thời linh, Vận khí theo thời gian sinh nạp âm ngũ hành có Hưu, Vượng, Tù, Khốn.

“气者,时也。未有时而气未定,既有时而气已丁。用之纳音者,缘有身而得之气也”.人们常说的运气的气是什么呢?按现代人说法就是机遇,就是时机,不到时机,运气还未到来,既然有了时机,运气也就定成使命,所以应当抓住时机,时不再来,迫之莫及。人们的运气是怎样计算的呢?是自出生的时辰开始的,有了身体才能得时令节气。气运按出生时间五行纳音的休旺囚困来取得的。

      Thân giả, tam nguyên cũng là thể, khí giả, bản thân thể, vận tức thuận nhưng khí lại nghịch, vận nghịch nhưng khí thuận, tính từ khi sinh ra, chuyển dịch không ngừng, đến tiệm cận Tuế. 1 cung dùng Hung Cát phân Đại, Tiểu vận, Hưu tường phi mệnh.

“身者,三元之体也。气者,身之本也。运即顺而气逆,运者逆而气顺。自生时为始,转行不已,推迁逐岁。一宫以大小运分吉凶,休祥非命之也”

      Vận khí căn bản của con người là đại vận, tiểu vận, người có thân thể (Khu – thân thể) thì sẽ có sinh mệnh, rồi sẽ có vận mệnh, nhưng vận khí chuyển động cũng gây ảnh hưởng.

人的身体是大小气运的根本,人有身躯才有了生命,才有了命运。而运气的运动又影响.

      Con người đã có thân thể. Đại vận, tiểu vận thuận dường như ai cũng có theo quy luật: trường sinh, tắm gội, quan đới, lâm cung, đế vương, suy, bệnh, tử, mộ, tuyệt, thai, dưỡng, là cát tường khang kiện, nhưng nghịch quy luật đó thì sẽ gặp nhiều tai họa. Cổ nhân nói “già sợ đế vương, thời niên thiếu sợ suy, trung niên sợ tử tuyệt thai” tuổi già khi vận gặp trường sinh đến đế vương, cái đặc biệt ở chỗ như mùa đông lạnh giá mà hoa khai quả kết, viễn cảnh tốt không dài. Lúc còn trẻ vận nên hành tương ứng với từ Trường sinh đến đế vương, kiện khang trưởng thành, nếu gặp vận suy bệnh, khó mà lớn trưởng thành được, trung niên nên gặp vận quan đới, lâm cung, đế vương, như vậy sẽ hưng vượng phát đạt, nếu gặp vận tử, tuyệt, mộ, thai, thì chưa già mà đã suy, hoa chóng tàn.   

着人的身躯。大运,小运顺乎人的“长生,沐浴,冠带,临宫,帝王,衰,病,死,墓,绝,胎,养” 规律,就吉祥康健,而逆其规律就多灾侵。古人说“老怕帝王,少怕衰,中年怕死绝胎” 老年逢长生至帝王之运,尤如十冬腊月果树开花,好景不长,少年正应行长生至帝王之运,健康成长,若逢衰病之运,难以长大成人。中年应逢冠带,临宫,帝王之运,兴旺发达。若逢死,绝,墓,胎之运,尤如未老先衰之花不会久长。

     Vận khí bắt đầu từ lúc sinh ra, chuyển biến không ngừng, đại vận là khoảng thời gian 10 năm, tiểu vận là 1 năm, lưu niên chính là năm đang tính dự trắc, như vậy dần tính ra hung cắt của con người, do vận mệnh cá nhân 1 con người và vận mệnh quốc gia là mật thiết không thể phân chia, do vậy quốc gia hưng suy bạo loạn không thể không ảnh hưởng tới vận mệnh cá nhân, vận mệnh cá nhân một con người không thể cả một quy luật phát triển của 1 xã hội.

“khí vận và tuyệt tắc. Thái tuế là quân vương, đại vận là nguyên soái, khí vận như tào sứ, tiểu vận như sứ thần, soái hung tất tào thần không thể cát (tốt)”

运气自生时开始,转行不已,大运管十年,小运管一年,流年则算当年,这样逐年推算人生之吉凶,由于人的个人命运跟国家命运密不可分,所以国运之兴衰动乱不能不影响个人的命运。个人的命运不可能转变整个社会的休祥发展规律。

“气运并绝则 。 太岁为君王,大运为元帅,气运如曹使,小运若使臣。帅凶则曹使不能吉”

      Vận khí hai chân vận lấy Lộc Mã khí, đều từ tuyệt đến tắc khó khăn đương đầu, trong quan hệ của lưu niên, đại vận và tiểu vận, thì cái nào là quan trọng cái nào là thứ yếu? Địa chi của Lưu niên là Thái tuế, do vậy thái tuế là quân vương, đại vận là nguyên soái, tiểu vận là sứ thần, khí vận như Tào sứ (tào: bọn, lũ người, cơ quan vận chuyển ngày xưa),. đại vận quản 10 năm, đại vận xuất hiện hung hạn, thì khí vận không thể cát (tốt).

气运二真运似禄马之气,都至绝处则大难当头,在流年,大运和小运的关系上,谁重要谁次之呢?流年的地支是太岁,所以太岁为君王,大运为元帅,小运为使臣,气运如曹使。大运管十年,大运出于凶限,则气运不可吉。

      “ biết cát biết hung, tác dụng định sẵn” trong tứ trụ, trong vận khí đại vận, tiểu vận, sinh vượng khố và Lộc Mã thì tương ứng với biết là cát. Tam nguyên ở tắm gội suy bệnh tử tuyệt, gặp lộc mã là quỷ (đáng ghét), không hoàn thuận là hung, cát hung đã định, tác dụng của cát hung thế nào sẽ nhất định hiện ra thôi.

“会吉会凶,作用定矣” 在四柱中,在大小气运中,生旺库与禄马旺处相会为吉,三元处沐浴衰病死绝处,逢禄马为鬼,无和顺者为凶,吉凶既定,它们的作用就必然显现出来。

      Người họa lớn trong các tượng đó ở tử tuyệt, nhỏ thì ở nạn, thân gần tiệm cận vận, vận thuận cận thân, trụ giúp vận có thể từ hung chuyển thành cát, trụ bại vận từ cát chuyển hung, thời vận gặp mã, hung cát đến rất nhanh, khi cát thì như hàng trăm cát ứng, khi hung thì như đống hung đuổi theo.

其象大者至于死绝,小者期于灾   ,身须逐运,运顺逐身。柱助运而凶反吉,柱败运而吉复凶,时运逢马,吉凶马上,一吉乎而百吉应,一凶     而众凶符。

     Thái tuế, đại vận, tiểu vận và tứ trụ khi đã hung định sẵn trong trụ rồi, sau đó nghiêm trọng có thể tử vong, nhẹ thì cũng gặp tai, quan trọng là Lưu niên, thái tuế và đại vận, tiểu vận có mấy loại hung? Thiệu Vỹ Hoa căn cứ kinh nghiệm của mình đưa ra một số điều:

太岁,大运,小运和四柱会凶作用定了之后,严重的会死绝,轻的也有灾    。关于流年太岁与大运,小运,四柱的会凶有几种情况呢?邵伟华根据经验总结出如下几条:

     1/ tuế vận gặp chủ hung, thì can chi của lưu niên và can chi của đại vận như nhau. Như can chi của năm 1976 là bính thìn, can chi đại vận năm đó của Mao Trạch Động cũng là bính thìn, như vậy gọi là tuế vận cùng lâm, cố thế giới chi, tuế vận cùng lâm là đại Nạn trong nạn của nhân sinh, có thể tự thân tử, có khi người thân qua đời, cũng có khi có người không tử. Do tam mệnh thông hội có nêu “Tuế vận cùng lâm, độc dương đao thất sát vi hung, quan tài âm duyên cũng cát”

1.岁运并临主凶,就是流年的干支与大运干支相同。像1976 年的干支是丙辰,毛泽东主席当年的大运干支也是丙辰,这就叫岁运并临,故逝世之。岁运并临之灾是人生之大灾,有的死自己,有的死亲人,其中也有不死人的。因“三命通会” 中有“岁运并临,独羊刃七杀为凶,财官印缘  yi cũng吉”。

      Thiên khắc địa xung, can chi của lưu niên và can chi của tứ trụ tương khắc, trong đó địa chi cũng tương xung, gọi là thiên khắc địa xung. Bên cạnh đó nếu nhật trụ và lưu niên thiên khắc địa xung, lại cũng xung khắc với đại vận là nghiêm trọng

2. 天克地冲,流年的干支与四柱中的天干相克,其地支又相冲,叫天克地冲。其中尤以日柱与流年天克地冲,又与大运冲克,最严重。

      Tứ trụ đều cùng xung khắc với thái tuế, như năm, tháng, ngày hoặc tháng, ngày, giờ của địa chi đều là Dậu, gặp thái tuế (địa chi) lưu niên là Mão, cấu thành tam dậu xung 1 mão, thì tai họa của người đó là lớn không sao sánh được, trên bàn la bàn địa chi đều tương xung, trong mệnh cấu thành tam chi xung 1 chi, đều là đại nạn.

3.四柱同来冲克太岁,像年,月,日,或,月,日,时的地支都是酉,遇流年太岁(地支) 是卯,构成三酉冲一卯,其人灾大无比。在罗经盘的地支相对冲的,命中构三支冲一支的,都有大灾。

      Tứ trụ, đại vận, tiểu vận xung khắc hình hại thái tuế, như nhật trụ, nguyệt trụ, đại vận đều là dậu kim, hoặc nhật trụ, đại vận, tiểu vận đều là dậu kim, lưu niên thái tuế là mão mộc, cũng cấu thành 3 dậu xung khắc 1 mão.

4.四柱,大小运冲克刑害太岁。像日柱,月柱,大运都是酉金,或日柱,大运,小运都是酉金,流年太岁是卯木,也构成三酉冲克一卯。

      Tứ trụ, đại vận, lưu niên 6 địa chi tạo thành 2 cực đối hoặc 3 cực hợp thì cũng dẫn tới chủ khắc, chủ đại họa lâm đầu, ví dụ: 3 dậu đối 3 mão, 3 thìn đối 3 tuất, 3 ngọ đối 3 tý vv, nếu cấu thành 3 thiên can khắc 1 thiên can hoặc 1 thiên can khắc 3 thiên can thì chủ cũng đại xung.

5.四柱,大运,流年的六个地支组成两对方局或三合局又  好相克者,主大祸临头,例如:三酉对三卯,三辰对三戌,三牛对三子等,如果构成三天干克一天干,或一天干克三天干,也主大凶。

     Những loại như vậy vẫn còn rất nhiều, không thể 1 lần nêu ra hết được. Nhân và thân và vận là liên quan mật thiết, thân cần tùy vận, vận cần tùy thân. Trong quan hệ của tứ trụ và vận, trụ là chủ, vận là khách. Trụ giúp vận, cũng có khi xung phản biến thành cát, trụ bại vận tất cát trở lại thành xung. Đại vận, tiểu vận đều gặp mã tinh, hội cát tất cát rất nhanh chóng đến, từ 1 cát đến trăm cát, hội xung tất xung cũng nhanh đến, có khi 1 xung chạy đến, thì 100 xung cùng đến tụ hội.

类似内容还有很多,不再一一列举。

人的身与运是密切相连的,身须随运,运须随身。在四柱与运的关系上,柱为主,运为客。柱助运,虽有凶反会成吉,柱败运则吉复成凶。大运,小运都逢马星,会吉则吉很快来临,且一吉百吉,会凶则凶来也速,而且一凶跑来,众凶符会。

     Cát mà thắng hung, hung tàng trong cát, hung mà thắng cát, cát ẩn trong hung, cát hung là hai loại vận mệnh không giống nhất trong nhân sinh, nhưng cát hung là 2 mặt mâu thuẫn đối lập thống nhất, cát nếu chiếm địa vị chủ đạo, hung sẽ chiếm địa vị bị động, nhưng trong cát tàng hung. Hung chiếm địa vị chủ đạo, cát sẽ chiếm địa vị bị động, nhưng cũng đồng dạng trong hung tàng cát, ở luận điểm này rõ ràng là quan hệ biện chứng của vận mệnh nhân sinh.

“吉若胜凶,凶藏吉内。凶若胜吉,吉隐凶中”

吉凶是人生中两种不同的命运,但吉凶又是对立统一的矛盾两方面,吉如占主导

地位,凶就占被动地位,但吉中藏凶。凶占主导地位,吉就占被动地位。但同样会凶中藏吉,这一论点,清楚地说人生命运的辨证关系。

     Vận hạn chi đạo, có thiên cung hạn giả, mỗi loại vận trình đều có thời hạn nhất định, căn cứ tình huống mỗi vận trình không giống nhau, phân thành cửu hạn là:

“运限之道,有天官限者” 每种运程都有一定时限。

根据每个不同运程的情况分成九限它们分别是:

     Thiên cung hạn. Tam nguyên đến vị trí trung đường, kiến quý phùng hợp, hoặc chỉ có quý không có hợp, hoặc chỉ có hợp nhưng không quý, tứ trụ trương sinh, vận tuế tương bổ, phàm gặp vận hạn này, quân tử sẽ vinh, người gặp bình an, mọi sự tốt.

(1)天官限。三元到中庸之地,见贵缝合,或只有贵却无合,或有合而无贵,四柱相生,运岁相   凡得此运限,君子将荣,    人获安,事事   吉。

     Gặp thế hạn. Tam nguyên cụ thể gặp nơi vượng tướng, tứ trụ có và tương chất thừa, thì sẽ có được thế.

(2) 得势限。三元俱到旺相地,四柱有与之相资承,谓之得其势也。

     Tàng hạn. Như lộc kim nhập thổ can (chỉ mậu kỷ); nạp âm kim nhập thổ chi (chỉ thìn mùi tuất sửu) hoặc kim nhập thổ nạp âm, như có thế tàng mà chưa xuất. Quân tử cầu vinh lộc bất lợi, chỉ có lợi cho người cầu an lạc, mùa xuân du ngoạn.

(3)    藏限。像禄金入土干(指戊己);纳音金入土支下 (指辰未戌丑) 或金入土纳音下,有如  藏不出之势。君子求荣禄不利,有利于求安乐者,暮春优游。

     Ba đào hạn. Kim mệnh nhập vận từ hợi, tý tuế, là trên tiểu vận, hợi, tý ngũ hành thuộc thủy, kim hóa dục sinh thủy, người mệnh mộc tiểu vận từ hợi tý, tất phiêu bạt giang hồ.

(4) 波浪限。金命人运至亥,子岁,是小运上的,亥,子五行属水,金化育生水,木命人运至亥子小运,则飘泛如

     Phong vũ hạn. Đại vận, tiểu vận từ chỗ suy tuyệt, nhân vi lộc quỷ. Nếu như vậy tất cát hung tương tục, đến đi dục tốc, thế đó như thế phong vũ bão.

(5) 风雨限。 大小运至衰绝处,人为禄鬼。如此则吉凶相继,来去迅速,其势如风    雨暴,无所系之。

     Bố tố hạn. Đi từ đại vận đến thân vượng tướng, nhưng can chi lại gặp tử tuyệt, mệnh người này đã nhập tai vận, nếu như thái tuế lưu niên, tiểu vận có thể phù trợ, thì trong 10 năm có 5 năm cát, hung cũng không qua ngưỡng đó, phân ra trước sau 5 năm, 5 năm đầu không cát, hậu vận 5 năm sau sẽ không hung, nếu 5 năm sau hung thì hung vô số.

(6)布素限。行大运到身旺相,而支干却逢死绝,本命已入灾运,如果流年太岁,小运能扶助,则十年之间也有五年之吉,不至于凶之过甚。分前后五年,前五年不吉,后运则五年无凶。如后五年凶,则凶之无数。

     Thất sở hạn. Tam nguyên thực gặp quỷ cung thất sát, đại vận, tiểu vận thấy 3 chi xung 1 chi, 3 can xung 1 can, hoặc hợp thành thế tương khắc tam cục. Tứ trụ và thái tuế lưu niên cũng tương khắc hình hại, là mệnh nhận nhập hoàng (vàng – đất), có nhà không quay về.

(7)失所限。三元俱逢七杀官鬼,大运,小运见三支冲一支,三干冲一干,或三合局成相克之势。四柱与流年太岁又相冲克刑害,是为命入黄   ,有家无归。

     Vụn nát hạn. Chỉ tuy phi hung tử chi hạn, như kim vụn nát đi như nước chảy không quay lại, đại vận, tiểu vận từ tắm gội càng gặp chân quỷ, chỗ này có thể lấy giáp (mộc) suy mà canh (kim) để khắc, nếu ngũ hành suy lại có khắc, gọi là vụn nát.

(8) 破碎限。此虽非凶死之限,像金破碎去如流水不返,大运,小运至沐浴更逢真鬼,这可以比作甲(木)衰而庚(金)来克。凡五行衰又有克,称为破碎。

     Tai vị hạn. Vận từ phù linh tức hình xung khắc hại tứ trụ, thái tuế hình khắc thân giã, chủ có vị sự tai họa, bản thân không tử, thì người thân cũng tử, chủ có tang phục, Lý Hư Trung giải thích cửu hạn, chuyển giao tường tận chủ vận hạn sự, cận đại Thiệu Vỹ Hoa đem các tình huống khác nhau giữa đại vận, tiểu vận, lưu niên và tứ trụ có hình, hại, khắc, xung, hợp vv phân thành trên 20 loại, xem thêm chương 7 của tứ trụ dự trắc học của Thiệu Vỹ Hoa.

(9) 灾位限。运至伏呤即刑冲克害四柱,太岁刑克身者,主有灾位之事,自己不死,也死亲    ,主有丧服。李虚中注释的九限,较详细说明了不同运限所主之事。近代邵伟华把大运,小运,流年与四柱之间的刑,害,克,冲,合等不同情况分成了近二十余种。详见邵伟华的“四柱预测学” 第七章。

     Phù tam nguyên cửu hạn giả, làm cho người được lợi. Tứ trụ tam tài giả. Bản khinh (nhẹ) tất đại giả tiểu lợi, nhỏ tất chủ bần, bên cạnh đó còn không có đường vận, cũng là vô sở định trước. Mấy câu này đối với đoạn tổng kết này. Đại tiểu vận khí với vận hạn không giống nhau của chúng, đối với con người mà nói, có lợi cũng có bế (bế tắc), cũng như con người làm mua bán vậy, có thắng có lỗ, lấy bát tự tứ trụ làm căn bản của con người. Tứ trụ đều ở chỗ vượng tướng, bên cạnh đó có quý thần phù trì, tất mệnh đại nhân. Tứ trụ ở chỗ hưu tù, hoặc can chi phối hợp bất lợi, tất mệnh tiểu thân nhược, hoặc nếu tứ trụ chủ bần, đường vận cũng không có, thì cả đời cũng không mong có lộc.

“夫三元九限者,乃人之利也。四柱三才者。本轻则大者小利,小则主本贫,而更无运路,亦惶惶无所依矣”

这几句话是对本段内容的总结。大小运气其不同的运限,对于人来说,有利也有弊,就象人生作买卖一样,有盈有亏。四柱八字是人命之根本。四柱都处旺相,且有贵神扶之,则命之本大。四柱处休    或干支配合不利,则命之本小身弱。如果四柱主贫,运路又不行,一生惶惶忙碌无所依靠。

     Lý Hư Trung trong chú giải đem quan hệ tứ trụ và đại tiểu vận khí làm quan hệ mua bán, vốn to thu lợi nhỏ, thắng qua vốn nhỏ tất đại lợi. Nguyên nhân là vốn trọng tất lợi trọng, vốn khinh tất lợi khinh, từ vận và mệnh con người nói. Mệnh lớn được lợi nhỏ thì không biết đến hung hại, được đại lợi tất thăng quan phát tài. Mệnh bần, thì thu lợi nhỏ, lịch sử của lợi nhỏ là có phúc có ích, nếu thu lợi lớn mà lại thu quá độ thì phản lại quá cát trở lại hung. Do đó con người không nên quá kỳ vọng, an bần lạc đạo là thân phận mình. Mệnh nghèo hèn có thể chờ thiên thời, như chồi non gặp mưa, vạn vật sinh sôi. Người trong mệnh không có phúc thọ, thì vận tốt đến cũng chỉ là hoa nở hoa tàn không lâu. Theo ngũ hành nói, Mộc sinh tại Chấn (phương đông), gặp Ly (phương nam), đoài (phương tây) là nhiều tai ương,

李虚中在注释中把四柱与大小运气的关系比做作买卖。本大得小利,胜过本小得

大利。原因是本重则利重,本轻则利轻。就人的命与运来说,命大得小利不会到凶害,得大利则升官发财。命贫贱者,得小利,得小历则有福有益,得大利,受之过度反会吉极反凶,所以,人不要过于  望,安贫乐道才是本份。命贫贱可以待天时,如苗得雨,万物滋荣。命中本无福寿者,好运到来也会花开花落不久远。按五行来说,木生于震(东方),临离(南方),兑(西方)就多灾殃。

     Hỏa sản sinh đông nam (Tỵ, Ngọ, bính, đinh) phò thiên môn (cửa trời) vị trí cung Càn sẽ ít lộc. Kim lạc (rơi xuống) từ càn đông nhưng Chấn bắc, gặp Khôn (tây nam) sẽ bại lộc suy quan. Thủy trường phùng hỏa mộc tông phương phục Càn cung sẽ cũng lui thân. 

火产东南(己,牛,丙,丁)  天门(  位)而少禄。金降自   东而震北,遇坤(西南)乡而败禄衰官。水长逢火木崇方复   宫而   身退迹 。

     Ngũ thổ

(chỉ mậu kỷ thổ và thìn mùi tuất tứ quý thổ) kỵ tại chân bại, tùy theo đại tiểu khí vận tính toán tỷ mỉ. Trong sơ đồ bát quái thổ không chính phương (không có phương chính), tùy chân vận tính toán vượng bại, từ thập thiên can hóa hợp mà nói, Giáp Kỷ hóa hợp thổ tại tây, ất canh hóa hợp kim bại tại ngọ, bính tân hóa hợp thủy tại tây, đinh nhâm hóa hợp mộc bại tại tý, mậu quý hóa hợp hỏa bại tại mão.

五土(指戊己土和辰未戌四季土)忌于真败。随大小气运详细推算。在八卦图中土无正位,随真运计算旺败。从十天干之化合来说,甲己化合土败在西,已更化合金败在牛,丙辛化合水在西,丁壬化合木败在子,戊癸化合火败在卯。

Ngu tho

Dịch từ bộ sách mua tại TQ, sẽ bổ sung thêm nội dung thuộc phạm vi kinh dịch tâm linh,

Hướng:

Hướng Bắc (số 1): gồm Nhâm Tý Quý;

Hướng Đông Bắc (số 8): gồm Sửu Cấn Dần;

Hướng Đông (số 3): gồm Giáp Mão Ất;

Hướng Đông Nam (số 4): gồm Thìn Tốn Tỵ;

Hướng Nam (số 9): gồm Bính Ngọ Đinh;

Hướng Tây Nam (số 2): gồm Mùi Khôn Thân;

Hướng  Tây (số 7): gồm Canh Dậu Tân;

Hướng Tây Bắc (sô 6): gồm Tuất Càn Hợi.

Các bạn xem thêm hình ảnh. You refer to the information here tại đây

Hotline: 0972.051.480