Nguyên Lý Dịch Học – Quỉ Cốc Tử baidu 易学原理

Đặng Xuân Thủy gửi lúc | Tag: kinh dịch , nguyên lý dịch học , phong thuỷ

Nguyên Lý Dịch Học – Quỉ Cốc Tử

易学原理

       Chuyện kể tình trạng nguyên thủy của thế giới là từ một phân làm hai, hóa ra âm dương, từ âm dương tiến mà sinh vạn sự vạn vật, từ luận chứng trên do thập thiên can hóa hợp với nhau theo đạo lý này sinh tứ tượng, bát quái và vô số sự việc khác.

叙说世界从原始状况一分为二,化出阴阳,进而产生万事万物。从而论证了由十天干相互化合产生四象八卦及大衍数的道理。

la ban

       Nếu muốn học mệnh số cần tinh thông vật hóa thông lý, ban đầu, thế giới trước đây thái hư, hộn độn với nhau làm một, sau đó tinh cảm từ từ sinh ra một, một viễn linh lại có nguyên khí tự hóa, vô trung hữu sinh , hữu trung vô sinh, quảng bất khả lượng, vi bất khả trắc, đến thời kỳ này,

       Vạn tượng đều bắt đầu từ giai đoạn này, sau đó khí thanh lãng bốc lên hóa ra trời, những vẩn đục của khí lắng xuống tạo ra đất, trời cao mà nổi, đất dày mà chìm, nổi lên trên đều có hiện tượng vận động rất rõ ràng, do đó là dương; chìm xuống đều là trầm lắng yên tĩnh của lý, do vậy gọi là âm, dương xung mà thôi thúc sinh vạn vật, âm

Trầm nhưng sinh trưởng thành vạn vật, vạn sự vạn vật bắt đầu đều là từ một phân hóa mà tạo ra.

trầm thanh trọc giao bột, vạn vật sinh thành

Sơ đồ Tiên Thiên Bát Quái: xem xét các vấn đề liên quan vũ trụ.

Tien thien bat quai xem xet ve Vu Tru

要学会命数必须精通物化通理,原先,太虚以前世界混浊一片,以后精感之下微微产真一,真一远灵又有元气自化,无中生有,有中生无,广不可量,微不可测。这个时候氤氲气体逐渐充盈,混混漠漠没有边缘。万象都是从这里开端的。后来清朗之气上升化而为天,浊滞之气下降沉积为地。天高而浮,地厚而沉。上浮都有明显运动之象,所以称阳;下沉都有寂寞埋没之理,所以称阴。阳冲而催生万物,阴沉而长成万物。万事万物开始都是从一分化而来的。

phuong vi

       Thanh trọc giao phân, vạn vật sinh thành, con người cũng hình thành rồi, do vậy xuất hiện tam tài, âm dương phân hóa, càn khôn hình thành, âm dương giao hoán cọ sát, cương nhu tương hỗ chuyển hóa, nên phân thành tôn ty, cao làm quân phụ, quý làm vương hầu, đại làm quận thủ, dưới làm thứ dân. Có phân chia tôn ty rồi, các lễ tiết nhân nghĩa trung tín cũng đã hình thành rồi, các tiêu chuẩn về phú quý tài cốc bố xx đã hình thành rồi, con người nhằm tuân thủ lễ tiết, chiếm hữu tài phú, tế thiên địa, xx vạn vật, quần thể người không giống nhau thông minh ngu đần cũng đã phân hóa rồi, trời cao (to) đất dày, nhân linh như vậy là xuất hiện tam tài.

清浊交分,万物生成,人也就形成了,因而三才出现。阴阳分化,乾坤成形,阴阳之交换推摩,刚柔之相互转化,就分处了尊卑。高而为君父,贵而为王侯,大而为郡守,下而为庶民。有了尊卑之分,仁义忠信的礼节也就形成了,财谷布帛都形成了富贵的标志。人们为了遵守礼节,占有财富,祀天地,驱万物,聪明愚笨的不同人群就划分开了,天大,地厚,人灵这三才因而出现。

      Thiên một địa hai thành ra thể càn khôn, khôn là địa là đất, càn là trời là kim, kim cũng là do đất sinh ra, kim sinh thủy, ngày xưa gọi là mẹ nước. Lý Hư Trung trong chú giải đã giải thích thiên là một địa là hai có quan hệ trong phù hiệu bát quái, thiên một địa hai, chính hợp cơ ngẫu số (lẻ chẵn). Trong phù hiệu bát quái tam cơ (三) là càn, tam ngẫu (chẵn) (≡ ≡) là khôn. Thiên một làm bắt đầu từ âm dương, do đó gọi là thái thủy, địa hai làm cho vạn vật từ nó sinh từ, do vậy gọi thái cực, càn quái vị trí Tây Bắc, khôn quái vị trí Tây Nam, lấy càn làm thái thủy, lấy khôn làm thái cực.

      Trong bát quái có khảm, li, chấn, đoài (li chính Bắc, khảm chính Nam, chấn chính Đông, đoài chính Tây), càn, khôn, cấn, tốn là bốn góc, (càn Tây Bắc, khôn Tây Nam, cấn Đông Bắc, tốn, Đông Nam). Cấn là thổ, đối ứng với khôn, tốn là phong (gió), phong ra từ rừng, vạn vật bắt đầu thịnh từ cấn (thổ). Càn khôn không chế điều tiết không bắt đầu từ phong, phong từ trong rừng cổ vũ vạn vật, do đó tốn vị trí chấn là Nam.  

天一地二成为乾坤之体。坤为地为土,乾为天为金,金也是由土生成的,金生水,古称为水母。

李虚中在注释中讲解了天一地二与八卦符号之间的关系,天一地二,正合寄偶之数。在八卦符合中三寄(三)为乾,三偶(≡ ≡) 为坤。天一乃阴阳从它开始,所以叫太始,地二乃万物从它滋生,所以叫太极,乾卦位于西北,坤卦位于西南,以乾为太始,以坤为太极。

在八卦图中有坎,离,震,兑为西正(离正北,坎正南,震正东,兑正西),乾,坤,艮,巽为四隅(乾西北,坤西南,艮东北, 巽东南)艮为土,与坤相对应。巽为风,风出于木。万物之始盛莫大于艮,乾坤之调节控制莫大不始于巽(风),风出于林中鼓舞万物。所以巽位于震之南。

Trong bốn phương vị chính trên, Khảm là chính bắc, thuộc thủy. Ly chính nam, thuộc hỏa. Chấn là chính đông, thuộc mộc. Đoài chính tây, thuộc kim. Lý Hư Trung trong chú giải đã nói chi tiết tứ Chính thuộc ngũ hành do đâu tới.

在四正方位上,坎为正北,属水,离为正南,属火,震为正东,属木,兑为正西,属金。李虚中在注释中详细讲解这四正的五行属性由来。

Thiên nhất đệ lục (tức giáp, kỷ) tương hợp sinh thủy, Cơ trong (cơ- lẻ) Ngẫu ngoài (ngẫu chẵn) thì quái tượng gọi là Khảm.

天一第六(即甲己)相合生水,奇内偶外其卦象叫坎。

Đệ nhị thiên thất (tức ất, canh) tương hợp sinh hỏa, cơ ngoài ngẫu trong, thì quái tượng gọi là Ly.

Hau thien bat quai xem xet nhan sinh

第二天七(即乙,庚)相合生火,奇外偶内,其卦叫离。

Thiên tam địa bát (tức bính, canh) tương hợp sinh mộc, mộc sinh gió là lay động, thì quái tượng gọi là Chấn

天三地八(即丙,辛)相合生木,木生风而动,其卦象叫震。

Địa tứ thiên cửu (tức đinh, nhâm) tương hợp sinh kim, kim có thể sinh thủy trạch (đầm, ao) vật, vật vượng, thì quái tượng của nó gọi là Đoài.

地四天九(即丁,壬)相合生金,金能生水泽物,物旺,其卦叫兑。

Trong sách mệnh thư có thiên1, địa 2. Thiên3, địa 4. thiên 5, địa 6. thiên7, địa 8, thiên 9 địa 10 có nói, kết quả cuối cùng nó chỉ cái gì? Do thập thiên can: giáp số 1, ất 2, bính 3, đinh 4, mậu 5, kỷ 6, canh 7, tân 8, nhâm 9, quí 10. các đơn số của thập thiên can gọi là dương can, cũng là địa can, thiên số và địa số đều cách nhau 5 tương hợp, ví dụ: 1,6. 2,7. 3,8. 4,9. 5,10. đều tương hợp  

在命书中有天一地二,天三地四,天五地六,天七地八,天九地十之说,它究竟指的什么呢?因十天干甲(1),乙(2),丙(3),丁(4),戊(5), 己(6),庚(7),辛(8),壬(9),癸(10)。其单数天干叫阳干,也就是地。天数与地数都是隔五相合,例如,1,6。 2,7。3,8。4,9。5,10。都相合。

Bát quái của kinh dịch, mỗi một quái tượng do lục hào (tức (一) hoặc --) tổ hợp thành. Càn, trong càn các hào sinh xuất bát quái thành 66,99 biến, hình thành tứ tượng và ngữ hành. trong mỗi tổ hợp quái tượng vừa có cương(-), nhu (--) tương hợp dịch vị, từ đó giữa thiên địa và vạn vật đều bao hàm trong tứ tượng, trong âm có dương, trong dương có âm, hàn thử vận hành, vạn vật hóa sinh, đại đến nhật, nguyệt, tinh, dần, quảng đến kim, mộc, thủy, hỏa. Không có cái gì mà tứ tượng không bao dung.

易经的八卦中,每一卦象由六个爻(即一或 --)组成。乾, 坤中的各爻又生出八卦的六六九九之变,形成四象和五行。在每一组卦象中又有刚(-) 柔(--)相互易位,从而天地之间的万事都能包涵于四像之中,阴中有阳,阳中有阴,寒署运行,万物化育,大到日,月,星,辰,广到金,木,水,火,无所不由四象包容。

Thế gian phân thành lưỡng nghi Thiên và Địa, trên có: Nhật, Nguyệt, Tinh, Dần vận hành uốn lượn. Dưới có Kim, Mộc, Thủy, Hỏa tất cả đều có tác dụng, Kim sinh từ đất, Càn Khôn là do từ một phân thành hai, do vậy Kim tụ từ đất. Tứ tượng, ngũ hành có thể giải thích sự không cùng của vạn vật.

世间分成天与地两仪,上有日,月,星,辰 运行苍弯,下有金木水火济于有用,金生于土,乾坤是由一分解为二,所以金 聚于土。四象,五行可解释万物之成终。

Đạo lý một phân làm hai là pháp tắc của biến hóa phát triển tự nhiên, bát quái cửu cung là do Âm Dương chi số Cương Nhu tương thừa mà có.

一分为二的道理是自然发展变化的法则,八卦九宫是由阴阳之数刚柔相乘得来的。

cuu cung

Lý Hư Trung trong chú giải đã giảng giải đạo lý một sinh 2, phân thành Âm Dương, là Thiên, Địa, các loại tác vật bắt đầu phát triển phồn hóa, giữa âm và dương tương hỗ biến hóa, tương hỗ ảnh hưởng. Dương lẻ (Cơ), Âm chẵn (Ngẫu), chồng lên nhau sinh thành bát quái “Thiên ngũ, địa ngũ, hai ngũ thành 10, năm mươi có 5 chi thẻ” do vậy nói có vô số thẻ, do trong thập thiên can, có ngũ dương can, và ngũ âm can, theo 1+ 2+3+4+5+6+7+8+9+10 =55 do đó nói có 55 thẻ. Trong {Hệ Từ} có nói Bội số chi số của 50, thì dùng 49.  Tín tắc tại “Mệnh Thư” có nói “Bội số chi số 50 có 5 ngôi, số nét lục tượng lấy hệ số là 6, giản lược đi còn dùng 49”. Lý Hư Trung trong giải thích Tín cũng nhất trí với phương pháp này.

李虚中在注释中讲解了道生一,一生二,分阴阳为地,天,各种作物开始繁衍。而阴与阳又相互转化,互相影响。阳奇阴偶迭用生成八卦“天五,地五,二五成十, 五十, 有五之策”是说大衍数的由来,因十天干中,有五阳干,五阴干,按 1+ 2+3+4+5+6+7+8+9+10 =55,所以说有 55 策。在{系辞}中说大衍之数五十,其用四十九。姚信则在“命书”中说“大衍之数五十,其用四十九” 姚信则在“命书”中说“天地之数五十有五者,其六以象六画之数,故减之而用四十九”。李虚中的注释同姚信的法一致的。

Lý Hư Trung cũng nói “Càn, Khôn chi thẻ có 11520, tức trừ ngày hiện tại, cũng là vạn vật chi số’ là có ý nghĩa gì? Do trong sơ đồ bát quái, hai hai tương phối hình thành 64 quẻ, mỗi 1 quẻ do 6 hào hình thành, tổng cộng có 64 x 6 = 384, trong 384 hào Càn (-)có 36 thẻ, Khôn (- -)có 24 thẻ, Càn hào, Khôn hào trong 384 mỗi cái chiếm 192.

(192 x 36) + (192 x 24) = 11520 thẻ.

Cổ nhân dùng 11520 thẻ, đại biểu cho vạn vật.

李虚中又说“乾,坤之策,万有一千五百二十,即当期之日,又当万物之数”是什么意思呢?因为八卦图中,两两相配形64 卦,每一卦由六爻组成,总计有 64 x 6 = 384,在384 爻中乾 (-) 爻有36 策,坤(--) 爻有24 策,乾爻,坤爻在 384 各占 192 个。

(192 x 36) + (192 x 24)= 11520 策

古人用11520 这个策数,代表万物的数目。

Dịch từ sách tôi mua ở TQ năm 2008, thuộc phạm vi kinh dịch tâm linh.

Hình ảnh cụ thể xem. You refer to the information here  tại đây.

Hotline: 0972.051.480